Rơ le xung (chốt) G4Q-212S AC220 OMRON

Relay xung (Relay chốt). Tên tiếng anh là Latch Relay, Latching relay, Ratchet Relay hoặc Pulse Relay.
Giới thiệu relay xung G4Q của Omron:
g4q-212s
Tài liệu rơ le G4Q

  • Nguồn cấp: 220VAC 50/60Hz
  • Ngõ ra: DPDT. 5A 250VAC (tải thuần trở); 3A 250VAC (tải điện cảm)
  • Tần số làm việc: 1.200 lần/giờ (ở tải định mức)
  • Tuổi thọ cơ: 5.000.000 lần tối thiểu (ở tần số hoạt động 1.200 lần/giờ)
  • Tuổi thọ điện: 500.000 lần tối thiểu (ở tần số hoạt động 1.200 lần/giờ, tải định mức)
  • Nhiệt độ làm việc: -10oC ~ 55oC

Model thông dụng: G4Q-212S AC220

Bạn có một hành lang dài chừng 50m. Bạn muốn có một mạch dây cáp điện chiếu sáng cho hành lang này với yêu cầu đặt ra là có thể tắt mở ở mỗi cửa phòng ra và ở 2 đầu hành lang. Bạn có thể có vài giải pháp giải quyết được yêu cầu này nhưng có thể nói Relay chốt chính là giải pháp tối ưu nhất trong trường hợp này. Bài này sẽ hướng dẫn bạn ứng dụng relay xung G4Q (Omron) để lắp mạch điện điều khiển đèn hành lang nói trên.

Giới thiệu chung hoạt động của dây cáp điện relay xung:

Relay xung là loại relay tắt mở, trong đó tiếp điểm được điều khiển bởi xung điện áp. Giả sử ban đầu tiếp điểm đang ở vị trí mặc định (Tiếp điểm thường hở NO đang mở, tiếp điểm thường đóng NC đang đóng). Nếu ta cấp 1 xung vào cuộn dây (cấp nguồn vào cuộn dây sau đó ngắt nguồn bằng 1 nút nhấn thường hở) thì tiếp điểm sẽ thay đổi trạng thái (Thường mở NO đóng lại, thường đóng NC mở ra). Bây giờ nếu ta cấp thêm 1 xung nguồn nữa vào cuộn dây thì tiếp điểm của realy trở về trạng thái mặc định ban đầu.

Như vậy, với dây cáp điện áp 220V thường dùng trong chiếu sáng, ta chọn model G4Q-212S 220VAC là thích hợp nhất. Tiếp điểm của Relay này có thể chịu dòng điện 5A max ở 220VAC. Nếu dòng điện lớn hơn ta có thể dùng thêm relay trung gian hoặc Contactor.
Cần lưu ý‎ đến khả năng mang tải của tiếp điểm. Nếu dòng điện tải lớn hơn khả năng của tiếp điểm, ta mở rộng thêm bằng cách sử dụng Relay trung gian hoặc contactor.
Ứng dụng: Mạch đèn chiếu sáng, điều khiểm bơm

Cách cài đặt biến tần LS IG5A

Cài đặt biến tần LS IG5A

Cài đặt thời gian tăng tốc :

Ở màn hình hiện tần số, nhấn mũi tên Lên / Xuống => hiện ACC => nhấn Enter (nút tròn ở giữa) => Chỉnh Lên / Xuống thay đổi giá trị (Thay đổi vị trí con trỏ bằng phím Lùi / Tới) => nhấn Enter => Số chớp nháy =>nhấn Enter lần nữa xác nhận.

Cài đặt thời gian giảm tốc :

Ở màn hình hiện tần số, nhấn mũi tên Lên / Xuống => hiện DEC => nhấn Enter (nút tròn ở giữa) => Chỉnh Lên / Xuống thay đổi giá trị (Thay đổi vị trí con trỏ bằng phím Lùi / Tới) => nhấn Enter => Số chớp nháy =>nhấn Enter lần nữa xác nhận.

Cài đặt công suất động cơ

Ở màn hình hiện tần số, nhấn mũi tên phải => đến khi hiện H0 => nhấn Lên / Xuống => hiện H30 => nhấn Enter (nút tròn ở giữa) => Chỉnh Lên / Xuống thay đổi giá trị (Thay đổi vị trí con trỏ bằng phím Lùi / Tới) => nhấn Enter => Số chớp nháy =>nhấnEnter lần nữa xác nhận.

Cài đặt bảo vệ quá tải

Ở màn hình hiện tần số, nhấn mũi tên phải => đến khi hiện F0 => nhấn Lên / Xuống => hiện F51 => nhấn Enter (nút tròn ở giữa) => Chỉnh Lên / Xuống thay đổi giá trị (Thay đổi vị trí con trỏ bằng phím Lùi / Tới) => nhấn Enter => Số chớp nháy =>nhấnEnter lần nữa xác nhận.

Cài đặt lệnh chạy trên bàn phím, chỉnh tần số trên bài phím

Lệnh chạy : Ở màn hình hiện tần số, nhấn mũi tên Lên / Xuống => đến hiện DRV => nhấn Enter (nút tròn ở giữa) => Chỉnh Lên / Xuống thay đổi giá trị = 0 => nhấn Enter => Số chớp nháy =>nhấn Enter lần nữa xác nhận.
Lệnh tần số : Ở màn hình hiện tần số, nhấn mũi tên Lên / Xuống => đến hiện Frq => nhấn Enter (nút tròn ở giữa) => ChỉnhLên / Xuống thay đổi giá trị = 0 => nhấn Enter => Số chớp nháy =>nhấn Enter lần nữa xác nhận.

Cài đặt lệnh chạy ở công tắc ngoài, chỉnh tần số biến trở ngoài

Lệnh chạy : Ở màn hình hiện tần số, nhấn mũi tên Lên / Xuống => đến hiện DRV => nhấn Enter (nút tròn ở giữa) => Chỉnh Lên / Xuống thay đổi giá trị = 1 => nhấn Enter => Số chớp nháy =>nhấn Enter lần nữa xác nhận.
Lệnh tần số : Ở màn hình hiện tần số, nhấn mũi tên Lên / Xuống => đến hiện Frq => nhấn Enter (nút tròn ở giữa) => ChỉnhLên / Xuống thay đổi giá trị = 3 => nhấn Enter => Số chớp nháy =>nhấn Enter lần nữa xác nhận.

Đấu dây biến tần LS IG5A

Đấu dây động lực

Nguồn vào 3 pha R, S, T. Nếu là 1 pha thường vào R, T. Động cơ đấu vào U, V, W. B1, B2 dùng để gắn điện trở hãm động năng. Sơ đồ có dạng như sau
 
01_dau_day_dong_luc ls
 
Đối với biến tần LS IG5A công suất 11KW đến 22KW có thêm cuộn kháng DC (DC Reactor)
02_dau_day_dong_luc_ ls 11-22kw

Đấu dây điều khiển

Nếu điều khiển động cơ trực trên bàn phím của biến tần ta dùng sơ đồ cơ bản như sau :
03_so_do_dieu_khien ls
Tài liệu cài đặt biến tần IG5A – Tiếng anh
 

Tủ tụ bù công suất phản kháng

I.Tại sao cần cải thiện hệ số công suất:

Tu-tu-bu-cos-phi-1 (1) Tu-tu-bu-cos-phi-2

1. Tiết kiệm tiền điện:

– Nâng cao hệ số công suất đem lại những ưu điểm về kỹ thuật và kinh tế, nhất là giảm tiền điện.
– Trong giai đoạn sủ dụng điện có giới hạn theo qui định. Việc tiêu thụ năng lượng phản kháng vượt quá 40% năng lượng tác dụng (tgφ > 0,4: đây là giá trị thoã thuận với công ty cung cấp điện) thì người sử dụng năng lượng phản kháng phải trả tiền hàng tháng theo giá hiện hành.
– Do đó, tổng năng lượng phản kháng được tính tiền cho thời gian sử dụng sẽ là:
kVAr ( phải trả tiền ) = KWh ( tgφ – 0,4)
– Mặc dù được lợi về giảm bớt tiền điện, người sử dụng cần cân nhắc đến yếu tố phí tổn do mua sắm, lắp đặt bảo trì các tụ điện để cải thiện hệ số công suất.
2. Tối ưu hoá kinh tế – kỹ thuật
– Cải thiện hệ số công suất cho phép người sử dụng máy biến áp, thiết bị đóng cắt và cáp nhỏ hơn V.V…đồng thời giảm tổn thất điện năng và sụt áp trong mạng điện.
– Hệ số công suất cao cho phép tối ưu hoá các phần tử cung cấp điện. Khi ấy các thiết bị điện không cần định mức dư thừa. Tuy nhiên để đạt được kết quả tốt nhất, cần đặt tụ cạnh cạnh từng phần tử của thiết bị tiêu thụ công suất phản kháng.
* Cải thiện hệ số công suất
– Để cải thiện hệ số công suất của mạng điện, cần một bộ tụ điện làm nguồn phát công suất phản kháng. Cách giải quyết này được gọi là bù công suất phản kháng.
-Tải mang tính cảm có hệ số công suất thấp sẽ nhận thành phần dòng điện phản kháng từ máy phát đưa đến qua hệ thống truyền tải phân phối. Do đó kéo theo tốn thất công suất và hiện tượng sụt áp.
– Khi mắc các tụ song song với tải, dòng điện có tính dung của tụ sẽ có cùng đường đi như thành phần cảm kháng của dòng tải. vì vậy hai dòng điện này sẽ triệt tiêu lẫn nhau IC = IL. Như vậy không còn tồn tại dòng phản kháng qua phần lưới phía trước vị trí đặt tụ.
– Đặc biệt ta nên tránh định mức động cơ quá lớn cũng như chế độ chạy không tải của động cơ. Lúc này hệ số công suất của động cơ rất nhỏ (0,17) do lượng công suất tác dụng tiêu thụ ở chế độ không tải rất nhỏ.

II. Các thiết bị bù công suất: 

1. Bù trên lưới điện áp
Trong mạng lưới hạ áp, bù công suất được thực hiện bằng :
– Tụ điện với lượng bù cố định (bù nền).
– Thiết bị điều chỉnh bù tự động hoặc một bộ tụ cho phép điều chỉnh liên tục theo yêu cầu khi tải thay đổi.
Chú ý : Khi công suất phản kháng cần bù vượt quá 800KVAr và tải có tính liên tục và ổn định, việc lắp đặt bộ tụ ở phía trung áp thường có hiệu quả kinh tế tốt hơn.
2. Tụ bù nền
Bố trí bù gồm một hoặc nhiều tụ tạo nên lượng bù không đổi. việc điều khiển có thể thực hiện:
– Bằng tay: dùng CB hoặc LBS ( load – break switch )
– Bán tự động: dùng contactor
– Mắc trực tiếp vào tải đóng điện cho mạch bù đồng thời khi đóng tải.
Các tụ điện được đặt:
– Tại vị trí đấu nối của thiết bị tiêu thụ điện có tính cảm ( động cơ điện và máy biến áp ).
– Tại vị trí thanh góp cấp nguồn cho nhiều động cơ nhỏ và các phụ tải có tính cảm kháng đối với chúng việc bù từng thiết bị một tỏ ra quá tốn kém.
– Trong các trường hợp khi tải không thay đổi.
3. Bộ tụ bù điều khiển tự động ( bù ứng động )
– Bù công suất thường được hiện bằng các phương tiện điều khiển đóng ngắt từng bộ phận công suất.
– Thiết bị này cho phép điều khiển bù công suất một cách tự động, giữ hệ số công suất trong một giới hạn cho phép chung quanh giá trị hệ số công suất được chọn.
– Thiết bị này được lắp đặt tại các vị trí mà công suất tác dụng và công suất phản kháng thay đổi trong phạm vi rất rộng. ví dụ: tại thanh góp của tủ phân phối chính, tại đầu nối của các cáp trục chịu tải lớn.
Các nguyên lý và lý do sử dụng bù tự động:
– Bộ tụ bù gồm nhiều phần và mỗi phần được điều khiển bằng contactor. Việc đóng một contactor sẽ đóng một số tụ song song với các tụ vận hành. Vì vậy lượng công suất bù có thể tăng hay giảm theo từng cấp bằng cách thực hiện đóng hoặc cắt contactor điều khiển tụ. Một rơley điều khiển kiểm soát hệ số công suất của mạng điện sẽ thực hiện đóng và mở các contactor tương ứng để hệ số công suất cả hệ thống thay đổi ( với sai số do điều chỉnh từng bậc ). Để điều khiển rơle máy biến dòng phải đặt lên một pha của dây cáp dẫn điện cung cấp đến mạch được điều khiển. Khi thực hiện bù chính xác bằng các giá trị tải yêu cầu sẽ tránh được hiện tượng quá điện áp khi tải giảm xuống thấp và do đó khử bỏ các điều kiện phát sinh quá điện áp và tránh các thiệt hại xảy ra cho trang thiết bị.
– Quá điện áp xuất hiện do hiện tượng bù dư phụ thuộc một phần vào giá trị tổng trở nguồn.
Các qui tắc bù chung
– Nếu công suất bộ tụ ( kVar ) nhỏ hơn hoặc bằng 15% công suất định mức máy biến áp cấp nguồn, nên sử dụng bù nền.
– Nếu ở trên mức 15%, nên sử dụng bù kiểu tự động.
– Vị trí lắp đặt tụ áp trong mạng điện có tính đến chế độ bù công suất; hoặc bù tập trung, bù nhóm, bù cục bộ, hoặc bù kết hợp hai phương án sau cùng.
– Về nguyên tắc, bù lý tưởng có nghĩa là bù áp dụng cho từng thời điểm tiêu thụ và với mức độ mà phụ tải yêu cầu cho mỗi thời điểm.
– Trong thực tiễn, việc chọn phương cách bù dựa vào các hệ số kinh tế và kỹ thuật.
Vị trí lắp đặt tụ bù:
3.1 Bù tập trung : áp dụng cho tải ổn định và liên tục.
Nguyên lý : bộ tụ đấu vào thanh góp hạ áp của tủ phân phối chính và được đóng trong thời gian tải hoạt động.
Ưu điểm:
– Giảm tiền phạt do vấn đề tiêu thụ công suất phản kháng .
– Làm giảm công suất biểu kiến.
– Làm nhẹ tải cho máy biến áp và do đó nó có khả năng phát triển thêm các phụ tải cần thiết.
Nhận xét :
– Dòng điện phản kháng tiếp tục đi vào tất cả lộ ra tủ phân phối chính của mạng hạ thế.
– Vì lý do này kích cỡ dây dẫn , công suất tổn hao không được cải thiện ở chế độ bù tập trung.
3.2 Bù nhóm ( từng phân đoạn ).
Bù nhóm nên sử dụng khi mạng điện quá lớn và khi chế độ tải tiêu thụ theo thời gian của các phân đoạn thay đổi khác nhau.
Nguyên lý : bộ tụ được đấu vào tủ phân phối khu vực . hiệu quả do bù nhóm mang lại cho dây dẫn xuất phát từ tủ phân phối chính đến các tủ khu vực có đặt tụ được thể hiện rõ nhất.
Ưu điểm:
– Làm giảm tiền phạt do vấn đề tiêu thụ công suất phản kháng.
– Làm giảm công suất biểu kiến yêu cầu.
– Kích thước dây cáp đi đến các tủ phân phối khu vực sẽ giảm đi hoặc với cùng dây cáp trên có thể tăng thêm phụ tải cho tủ phân phối khu vực.
Nhận xét :
– Dòng điện phản kháng tiếp tục đi vào tất cả dây dẫn xuất phát từ tủ phân phối khu vực.
– Vì lý do này mà kích thước và công suất tổn hao trong dây dẫn nói trên không được cải thiện với chế độ bù nhóm.
– Khi có sự thay đổi đáng kể của tải, luôn luôn tồn tại nguy cơ bù dư và kèm theo hiện tượng quá điện áp.
3.3 Bù riêng:
Bù riêng nên được xét đến khi công suất động cơ lớn đáng kế so với mạng điện.
Nguyên lý: bộ tụ mắc trực tiếp vào đầu dây nối của thiết bị dùng điện có tính cảm ( chủ yếu là các động cơ ).
Bộ tụ định mức ( kVAr) đến khoảng 25% giá trị công suất động cơ. Bù bổ sung tại đầu nguồn điện cũng có thể mang lại hiệu quả tốt.
Ưu điểm :
Làm giảm tiền phạt do tiêu thụ công suất phản kháng (kVAr)
Giảm công suất biểu kiến yêu cầu.
Giảm kích thước và tổn hao dây dẫn đối với tất cả dây dẫn.
Nhận xét :
Các dòng điện phản kháng có giá trị lớn sẽ không còn tồn tại trong mạng điện.
3.4 Mức độ bù tối ưu
Phương pháp chung
Bảng số liệu tính toán công suất phản kháng cần thiết trong giai đoạn thiết kế. qua đó có thể xác định công suất phản kháng và công suất tác dụng cho mức độ bù khác nhau.
Vấn đề tối ưu hoá kinh tế kỹ thuật cho một mạng điện đang hoạt động.
Việc tính toán định mức bù tối ưu cho một mạng đã tồn tại có thể thực hiện theo những lưu ý sau:
+ Tiền điện trước khi đặt bù
+ Tiền điện tương lai sau khi lắp tụ bù.
+ Các chi phí bao gồm :
– Mua tụ bù và mạch điều khiển.
– Lắp đặt và bảo trì
– Tổn thất trong tụ và tổn thất trên dây cáp, máy biến áp sau khi lắp tụ bù.

III. Chọn Tụ Bù :

1. Phương pháp tính đơn giản:
(để chọn tụ bù cho một tải nào đó thì ta cần biết công suất(P) của tải đó và hệ số công suất (Cos φ) của tải đó):
Giả sử ta có công suất của tải là P
Hệ số công suất của tải là Cos φ1  tg φ1 ( trước khi bù )
Hệ số công suất sau khi bù là Cos φ2  tg φ2.
Công suất phản kháng cần bù là QC = P (tgφ1 – tgφ2 ).
Từ công suất cần bù ta chọn tụ bù cho phù hợp trong bảng catalog của nhà cung cấp tụ bù.
Để dễ hiểu ta sẽ cho ví dụ minh hoạ như sau:
Giả sử ta có công suất tải là P = 270 (KW).
Hệ số công suất trước khi bù là cosφ1 = 0.75  tgφ1 = 0.88
Hệ số công suất sau khi bù là Cosφ2 = 0.95  tgφ2 = 0.33
Vậy công suất phản kháng cần bù là Qbù = P ( tgφ1 – tgφ2 )
Qbù = 270( 0.88 – 0.33 ) = 148.5 (KVAr)
Từ số liệu này ta chọn tụ bù trong bảng catalog của nhà sản xuất giả sử là ta có tụ 25KVAr. Để bù đủ cho tải thì ta cần bù 6 tụ 25 KVAr tổng công suất phản kháng là 6×25=150(KVAr) với 6 tụ bù này ta chọn bộ điều khiển 6 cấp như sơ đồ hình vẽ:
2. Phương pháp bù tối ưu dựa vào điều kiện không đóng tiền phạt:
Xét hoá đơn tiền điện liên quan đến dung lượng kVArh đã tiêu thụ và ghi nhận số kVArh phải trả tiền sau đó, chọn hoá đơn tiền giá kVArh cao nhất phải trả (không xét đến trường hợp ngoại lệ).
Ví dụ: 15965 kVArh trong tháng giêng
Tính tổng thời gian hoạt động trong tháng đó ví dụ : 220h số giờ xét để tính là những giờ mà hệ thống điện chịu tải lớn nhất và tải đạt giá trị đỉnh cao nhất. ngoài thời gian kể trên việc tiêu thụ công suất phản kháng là miễn phí.
Giá trị công suất cần bù:
[kVAr] = = Qbù
kVAr : số kVAr phải trả tiền.
T : số giờ hoạt động
Dung lượng bù thường được chọn cao hơn giá trị tính toán một chút.
Một số hãng cung cấp qui tắc thước loga thiết kế đặt biệt cho việc tính toán này theo các khung giá riêng. Công cụ trên và các dữ liệu kèm theo giúp ta chọn lựa thiết bị bù và sơ đồ điều khiển thích hợp, đồng thời ràng buộc của các sóng hài điện áp trong hệ thống điện . các sóng hài này đòi hỏi sử dụng định mức tụ dư ( liên quan đến giải nhiệt, định mức áp và dòng điện ) và các cuộn kháng hoặc mạch để lọc sóng hài.

 
 

Các mạch biến đổi tần số

GIỚI THIỆU

Trong kỹ thuật thông tin vô tuyến điện, khi muốn truyền thông tin đi xa người ta phải chuyển tần số của tín hiệu tin tức lên một tần số cao hơn rất nhiều là vì công suất của sóng điện từ khi bức xạ ra tỷ lệ với tần số của sóng. Do vậy với tin tức có tần số thấp thì khả năng bức xạ rất yếu và không có khả năng truyền đi xa.

Phương pháp để thực hiện chuyển phổ của tín hiệu tin tức lên vùng có tần số cao hơn đó là điều chế (điều chế biên độ, điều tần, điều pha), các mạch trộn tần.

Ở phía máy thu phải có một quá trình chuyển đổi ngược lại, tức là chuyển phổ tín hiệu tin tức đang ở tần số cao về đúng với tần số gốc ban đầu, quá trình đó là tách sóng (giải điều chế). Với mỗi kiểu điều chế sẽ có các mạch tách sóng tương ứng.

Ngoài ra, trong một số trường hợp khó thực hiện việc chuyển phổ tần số một lần đến đúng tần số mong muốn, người ta thường dùng các mạch trộn tần. Trong các máy thu đổi tần thông thường cũng sử dụng các mạch trộn tần để chuyển tần số sóng mang (tần số cao) về một tần số trung gian (tần số trung tần), sau đó khuếch đại tín hiệu lên nhiều lần trước khi đưa vào mạch tách sóng.

Tất cả các quá trình biến đổi tần số đều dựa vào một tính chất rất quan trọng của linh kiện bán dẫn đó là tính chất phi tuyến. Tính chất phi tuyến ở đây được hiểu là khi chúng ta tác động một tần số và linh kiện bán dẫn thì nó sẽ cho ra nhiều tần số là bội của tức là nf với n = 1, 2, 3,..

NỘI DUNG

KHÁI NIỆM VỀ ĐIỀU CHẾ

Điều chế là quá trình ghi tin tức vào dao động cao tần nhờ biến đổi một thông số nào đó như biên độ, tần số hay góc pha của dao động cao tần theo tin tức.

Thông qua điều chế, tin tức ở miền tần số thấp được chuyển lên vùng tần số cao để bức xạ truyền đi xa.

– Tin tức được gọi là tín hiệu điều chế.

– Dao động cao tần được gọi là tải tin hay tải tần.

– Dao động cao tần mang tin tức gọi là dao động cao tần đã điều chế.

Đối với tải tin điều hoà, ta phân biệt ra hai loại điều chế là điều biên và điều chế góc, trong đó điều chế góc bao gồm cả điều tần và điều pha.

ĐIỀU BIÊN

Phổ của tín hiệu điều biên

Điều biên là quá trình làm cho biên độ tải tín hiệu biến đổi theo tin tức. Để đơn giản, giả thiết tin tức uS và tải tin utđều là dao động điều hoà và tần số tin tức biến thiên từ ωSminωSmax, ta có:

bien doi tan so 1

Do đó tín hiệu điều biên:

bien doi tan so 2

trong đó: m=ÛSlà hệ số điều chế (hay độ sâu điều chế).

Hệ số điều chế phải thoả mãn điều kiệnm≤1. Khi m>1 thì mạch có hiện tượng quá điều chế làm cho tín hiệu bị méo trầm trọng. (hình 6-1).

Áp dụng biến đổi lượng giác ta được:

bien doi tan so 3

Như vậy, ngoài thành phần tải tin, tín hiệu điều khiển còn có hai biên tần. Biên tần trên có tần số từ (ω1 + ωSmin) đến (ω1 + ωSmax) và biên tần dưới từ (ω1ωSmin) đến (ω1 – ωSmax).

bien doi tan so 4

Quan hệ năng lượng trong điều biên

Trong tín hiệu điều biên, các biên tần  chứa tin tức, còn tải tin không mang tin tức. Ta xét xem năng lượng được phân bố thế nào trong tín hiệu điều biên.

Công suất của tải tin: là công suất trung bình trong một chu kỳ tải tin.

bien doi tan so 5

Công suất biên tần :

bien doi tan so 6

Công suất của tín hiệu đã điều biên là công suất trung bình trong một chu kỳ của tín hiệu điều chế.

bien doi tan so 7

Ta thấy rằng công suất của tín hiệu đã điều biên phụ thuộc vào hệ số điều chế m. Hệ số điều chế m càng lớn thì công suất tín hiệu đã điều biên càng lớn. Khi m =1 thì ta có quan hệ công suất hai biên tần và tải tần như sau:

bien doi tan so 8

Để giảm méo hệ số điều chế m < 1 do đó công suất các biên tần thực tế chỉ khoảng một phần ba công suất tải tin. Nghĩa là phần lớn công suất phát xạ được phân bổ cho tải tin, còn công suất của tin tức chỉ chiếm phần nhỏ. Đó là nhược điểm của tín hiệu điều biên so với tín hiệu đơn biên.

6Các chỉ tiêu cơ bản của tín hiệu điều biên

Hệ số méo phi tuyến

bien doi tan so 9 

là thành phần dòng điện ứng với hài bậc cao của tín hiệu điều chế.

là biên độ của các thành phần bien tan (thành phần sóng cơ bản).

bien doi tan so 11

Để giảm méo phi tuyến buộc phải giảm độ sâu điều chế.

Hệ số méo tần số

Để đánh giá ta dựa vào đặc tuyến biên độ – tần số

bien doi tan so 12

Hệ số méo tần số xác định theo biểu thức:

bien doi tan so 13

Các mạch điều biên

Các mạch điều biên thường sử dụng các phần tử bán dẫn với tính chất phi tuyến của chúng. Tính chất phi tuyến ở đây được hiểu là khi chúng ta cho hai tín hiệu với hai tần số khác nhau tác động lên linh kiện bán dẫn thì nó sẽ sinh ra các thành phần là tổng và hiệu của các tần số tác động.

bien doi tan so 14

Về lý thuyết thì tín hiệu đầu ra có tần số n.f1 + m. f2với m, n =1, 2,…

Có các kiểu điều biên như điều biên cân bằng và điều biên vòng, điều chế đơn biên…

– Mạch điều chế đơn biên chỉ dùng một phần trở tích cực như điốt hoặc tranzito.

– Mạch điều biên cân bằng có ưu điểm giảm được méo phi tuyến.

Điều biên cân bằng

Theo hình 6-3a điện áp đặt lên các điốt D1, D2 lần lượt là:

bien doi tan so 15

Dòng điện qua mỗi điốt được biểu diễn theo chuỗi Taylor:

bien doi tan so 16

bien doi tan so 17

Dòng điện ra: i = i1 – i2

26539

trong đó:

bien doi tan so 18

Mạch điều chế vòng

Mạch điều chế vòng: thực chất là hai mạch điều chế cân bằng chung tải.

Gọi dòng điện ra của mạch điều chế cân bằng D1, D2 là iI và dòng điện ra của mạch điều chế cân bằng D3, D4 là iII.

Với mạch điều chế kiểu này ta có được:

bien doi tan so 19

bien doi tan so 20

Điều chế vòng cho méo nhỏ nhất vì nó khử được các hài bậc lẻ của ωS và các biên tần 2ωt.

Điều chế đơn biên

– Khái niệm:

Phổ của tín hiệu điều biên gồm tải tần và hai biên tần, trong đó chỉ có bien tan mang tin tức. Vì hai dải biên tần mang tin tức như nhau nên chỉ cần truyền đi một biên tần là đủ thông tin về tin tức. Tải tần chỉ cần dùng để tách sóng, do đó có thể nén toàn bộ hoặc một phần tải tần trước khi truyền đi. Quá trình điều chế để nhằm tạo ra một dải biên tần gọi là điều chế đơn biên.

Điều chế đơn biên tuy tốn kém nhưng có các ưu điểm sau:

+ Độ rộng dải tần giảm một nửa.

+ Công suất bức xạ yêu cầu thấp hơn cùng với một cự ly thông tin. Vì có thể tập trung công suất của tải tần và một biên tần cho biên tần còn lại.

+ Tạp âm đầu thu giảm do dải tần của tín hiệu hẹp hơn.

Biểu thức của tín hiệu điều chế đơn biên trên là:

bien doi tan so 21

trong đó k = Û/ Ût được gọi là hệ số nén tải tin, có thể nhận các giá trị từ 0  ∞.

– Điều chế đơn biên theo phương pháp lọc.

Từ sự phân tích phổ của tín hiệu điều biên rõ ràng muốn có tín hiệu đơn biên ta chỉ cần lọc bớt một dải biên tần. Nhưng thực tế không làm được như vậy. Khi tải tần là cao tần thì vấn đề lọc để tách ra một dải biên tần gặp khó khăn. Thật vậy, giả thiết tần số thấp nhất của tin tức fSmin = 200Hz, lúc đó khoảng cách giữa hai biên tần là Δf = 2fSmin = 400Hz (xem hình 6-1b). Nếu tải tần ft=10MHz thì hệ số lọc của bộ lọc

X=Δf / ft= 4.10^5

, khá nhỏ. Khi đó sự phân bố của hai biên tần gần nhau đến nỗi ngay dùng một mạch lọc Thạch anh cũng rất khó lọc được dải biên tần mong muốn. Do đó trong phương pháp lọc, người ta dùng một bộ biến đổi trung gian để có thể hạ thấp yêu cầu đối với bộ lọc.
bien doi tan so 22

 ĐIỀU TẦN VÀ ĐIỀU PHA

Các công thức cơ bản và quan hệ giữa điều tần và điều pha

Vì giữa tần số và góc pha của một dao động có quan hệ như biểu thức sau, nên dễ dàng chuyển đổi sự biến thiên tần số thành biến thiên về pha và ngược lại.

bien doi tan so 23

Điều tần và điều pha là ghi tin tức vào tải tin làm cho tần số hoặc pha tức thời của tải tin biến thiên theo dạng tín hiệu điều chế.

Khi điều chế tần số hoặc điều chế pha thì tần số hoặc góc pha của dao động cao tần biến thiên tỷ lệ với tín hiệu điều chế và chúng được xác định lần lượt theo biểu thức:

bien doi tan so 24

Trong đó: ωt là tần số trung tần của tín hiệu điều tần

kđt Û=Δωm và gọi là lượng di tần cực đại.

kđp Û=Δωm và gọi là lượng di pha cực đại.

Biểu thức của dao động điều tần:

bien doi tan so 25

Biểu thức dao động điều pha khi ω = ωt = const.

bien doi tan so 26

Lượng di pha đạt được khi điều pha Δφ=Δφm. Cos ωSt tương ứng có lượng di tần là:

bien doi tan so 27

Như vậy ta thấy điều tần và điều pha đều làm cho góc pha thay đổi nên thường gọi chung là điều chế góc. Điểm khác nhau cơ bản giữa điều tần và điều pha là lượng di tần khi điều pha tỷ lệ với biên độ của tín hiệu điều chế và tần số điều chế, còn lượng di tần của tín hiệu điều tần tỷ lệ với tín hiệu điều chế mà thôi.

MẠCH ĐIỀU TẦN VÀ ĐIỀU PHA

Mạch điều tần

Có thể dùng mạch điều tần trực tiếp hay điều tần gián tiếp.

Mạch điều tần trực tiếp thường được thực hiện bởi các mạch tao dao động mà tần số dao động riêng của nó được điều khiển bằng điện áp (VCO) hoặc bởi các mạch biến đổi điện áp – tần số. Nguyên tắc thực hiện điều tần trong các bộ tạo dao động là làm biến đổi trị số điện kháng của bộ tạo dao động theo điện áp đặt vào. Phương pháp phổ biến nhất là dùng điốt biến dung (varicap) và tranzito điện kháng.

Mạch điều tần trực tiếp dùng điốt biến dung.

Điốt biến dung có điện dung mặt ghép biến đổi theo điện áp đặt vào. CD được xác định theo biểu thức:

bien doi tan so 28

trong đó k – hệ số tỷ lệ.

φk – hiệu điện thế tiếp xúc mặt ghép, với điốt Silic φk≈ 0,7V

y – hệ số phụ thuộc vật liệu.

Mắc điốt song song với hệ tạo dao động của bộ tạo dao động, đồng thời đặt điện áp điều chế lên điốt thì CD thay đổi theo điện áp điều chế, do đó tần số cộng hưởng riêng của bộ tạo dao động cũng biến đổi theo. Trên hình 6-6b là mạch điện bộ tạo dao động điều tần bằng điốt biến dung. Trong mạch điện này điốt được phân cực ngược bởi nguồnE2.

Tần số dao động của mạch gần bằng tần số cộng hưởng riêng của hệ dao động và được xác định như sau:

bien doi tan so 29

Điện áp đặt lên điốt:

bien doi tan so 30

Để điốt luôn được phân cực ngược cần thoả mãn điều kiện:

bien doi tan so 31

Nguyên lý hoạt động chính của mạch là khi có điện áp tin tức us tác động vào nó sẽ tác động một điện áp ngược lên điốt biến dung D và từ đó giá trị điện dung của điốt sẽ thay đổi làm cho tần số cộng hưởng của mạch thay đổi.

bien doi tan so 32

Khi điều tần bằng điốt biến dung phải chú ý những đặc điểm sau:

– Chỉ phân cực ngược cho điốt để tránh ảnh hưởng của RD đến phẩm chất của hệ tạo dao động nghĩa là đến độ ổn định tần số của mạch.

– Phải hạn chế khu vực làm việc trong đoạn tuyến tính của đặc tuyến CD = f(ud) của điốt biến dung để giảm méo phi tuyến. Lượng di tần tương đối khi điều tần dùng điốt biến dung đạt được khoảng 1%.

– Vì dùng điốt điều tần nên thiết bị điều tần có kích thước nhỏ. Có thể dùng điốt bán dẫn để điều tần ở tần số siêu cao, khoảng vài trăm MHz. Tuy nhiên độ tạp tán của tham số bán dẫn lớn, nên kém ổn định.

Điều tần dùng tranzitođiện kháng.

Phần tử điện kháng dung tính hoặc cảm tính được mắc song song với hệ dao động của bộ tạo dao động làm cho tần số dao động thay đổi theo tín hiệu điều chế. Phần tử điện kháng được thực hiện nhờ một mạch di pha mắc trong mạch hồi tiếp của một tranzito.

bien doi tan so 33

Phần tử điện kháng là phân áp RC. Trong đó T1 là tranzito điện kháng, T2 là tranzito dao động. Tranzito điện kháng được mắc một phần (trên L1) với hệ dao động. Cũng có thể mắc hai tranzito điện kháng thành một mạch đẩy kéo để tăng lượng di tần.

Mạch điều pha

Mạch điều chế pha theo ArmStrong ở hình 6-8 được thực hiện theo nguyên lý: tải tin từ bộ tạo dao động thạch anh được đưa đến bộ điều biên 1 (ĐB1) và điều biên 2 (ĐB2) lệch pha nhau 900, còn tín hiệu điều chế uS đưa đến hai mạch điều biên ngược pha.

bien doi tan so 34

Điện áp đầu ra trên hai bộ điều biên là:

bien doi tan so 35

Điện áp uđp = uđb1 + uđb2. Điều đó được giải thích bằng đồ thị vectơ.

TÁCH SÓNG

Khái niệm

Tách sóng là quá trình lấy lại tín hiệu điều chế. Tín hiệu sau tách sóng phải giống dạng tín hiệu ban đầu. Thực tế tín hiệu điều chế uS sau khi qua điều chế và qua kênh thông tin đưa đến bộ tách sóng đã bị méo dạng thành uS. Do méo phi tuyến trong bộ tách sóng, nên sau khi tách sóng ta lại nhận được uS khác dạng uS. Như vậy tín hiệu sau tách sóng thường khác dạng tín hiệu nguyên thuỷ uS. Vì vậy một trong những yêu cầu cơ bản của quá trình tách sóng là méo phi tuyến nhỏ.

Tương ứng với các loại điều chế, ta cũng có các mạch tách sóng sau đây: tách sóng điều biên, tách sóng điều tần, tách sóng điều pha.

Tách sóng biên độ

Các tham số cơ bản

  • Hệ số tách sóng

bien doi tan so 36

Trong đó :

bien doi tan so 37

Đều gồm có thành phần một chiều và thành phần biến thiên chậm theo thời gian:

bien doi tan so 38

– Thực tế, đối với quá trình tách sóng chỉ cần quan tâm đến thành phần biến thiên chậm (mang tin tức) mà thôi, do đó thường xác định hệ số tách sóng như sau:

bien doi tan so 39

  • Trở kháng vào bộ tách sóng:

bien doi tan so 40

  • Méo phi tuyến:

bien doi tan so 41

Ở đây không quan tâm đến các sóng hài dòng điện cao tần vì dễ dàng lọc bỏ chúng.

Mạch điện bộ tách sóng biên độ

Xét mạch tách sóng biên độ dùng mạch chỉnh lưu mắc nối tiếp hình 6-10. Nếu tín hiệu vào đủ lớn sao cho điốt làm việc trong đoạn thẳng của đặc tuyến như trên hình 6-11 ta có quá trình tách sóng tín hiệu lớn.

bien doi tan so 42

Trong các sơ đồ hình 6-9 điốt chỉ thông đối với nửa chu kỳ dương của dao động cao tần ở phần đầu vào. Hình bao của dao động nhận được nhờ sự phóng nạp của tụ C (hình 6-10).

bien doi tan so 43

Trong các sơ đồ hình 6-12 phải chọn hằng số thời gian τ = RC đủ lớn sao cho dạng điện áp ra tải gần với dạng hình bao của điện áp cao tần ở đầu vào. Thông thường biên độ điện áp vào lớn hơn 1 vôn hiệu dụng và R >>RiRV thì có thể tách sóng được điện áp đỉnh. Tuy nhiên cũng không được chọn τ quá lớn để tránh méo do điện dung tải gây ra. Điều kiện tổng quát để chọn τ là:

bien doi tan so 44

bien doi tan so 45

Trường hợp chọn C lớn quá sẽ gây méo tín hiệu như ở hình 6-13.

bien doi tan so 46

Thực tế thường chọn RC theo điều kiện:

bien doi tan so 47

Muốn dễ dàng thoả mãn cần

bien doi tan so 48

TÁCH SÓNG ĐIỀU TẦN VÀ ĐIỀU PHA

Tách sóng điều tần và điều pha thường được thực hiện theo một trong những nguyên tắc sau:

  • Biến đổi tín hiệu điều tần hoặc điều pha thành tín hiệu điều biên rồi thực hiện tách sóng biên độ.
  • Biến đổi tín hiệu điều tần thành tín hiệu điều chế độ rộng xung rồi thực hiện tách sóng tín hiệu điều chế độ rộng xung nhờ mạch tích phân.
  • Làm cho tần số tín hiệu cần tách sóng bám theo tần số của một bộ tạo dao động nhờ hệ thống vòng giữ pha PLL, điện áp sai số chính là điện áp cần tách sóng.

Ta xét một số mạch cụ thể:

Mạch tách sóng điều tần dùng mạch lệch cộng hưởng

Hình 6-14 là sơ đồ mạch tách sóng điều tần số dùng mạch lệch cộng hưởng. Đầu vào hai bộ tách sóng biên độ (D1D2) là hai mạch cộng hưởng được điều chỉnh tại các tần số ω1 và ω2. Nếu gọi tần số trung tâm của tín hiệu điều tần đầu vào là :

bien doi tan so 49bien doi tan so 50

Sự điều chuẩn mạch cộng hưởng lệch khỏi tần số trung bình của tín hiệu vào làm biên độ điện áp vào của hai bộ tách sóng biên độ (U1, U2) thay đổi phụ thuộc vào tần số điện áp vào.

Tách sóng dùng mạch lệch cộng hưởng có nhược điểm là khó điều chỉnh cho hai mạch cộng hưởng hoàn toàn đối xứng nên ít được dùng.

Mạch tách sóng điều tần dùng mạch cộng hưởng ghép

Mạch tách sóng điều tần dùng mạch cộng hưởng ghép ở hình 6-15. Mạch điện làm việc theo nguyên tắc chuyển biến thiên tần số thành biến thiên về pha, sau đó thực hiện tách sóng pha nhờ tách sóng biên độ.

bien doi tan so 51

Tách sóng dùng mạch cộng hưởng ghép ít gây méo và dễ điều chỉnh vì cả hai mạch đều cộng hưởng ở tần số f0. Tuy nhiên điện áp ra trong bộ tách sóng này vừa phụ thuộc tần số vừa phụ thuộc biên độ tín hiệu vào |U1| nên nó sinh ra nhiễu biên độ. Để khắc phục nhược điểm này, phải đặt trước mạch tách sóng một mạch hạn chế biên độ.

Mạch tách sóng tỷ số

Mạch tách sóng điều tần tỷ số có sơ đồ ở hình 6-16. Các điốt tách sóng được mắc nối tiếp nhau. Mạch vừa làm nhiệm vụ tách sóng vừa làm nhiệm vụ hạn chế biên độ.Bộ tách sóng tỷ số không có phản ứng với các biến thiên về biên độ ở đầu vào nên tránh được nhiễu biên độ.

bien doi tan so 52

Mạch tách sóng pha cân bằng dùng điốt

Mạch tách sóng pha cân bằng là hai mạch tách sóng biên độ dùng điốt ghép với nhau hình 6-17. Tín hiệu cần tách sóng chính là tín hiệu đã điều pha, udp được so sánh về pha với một dao động chuẩn uch. Biểu thức udp và uch như sau:

bien doi tan so 53

Điện áp đặt lên hai bộ tách sóng tương ứng là:

bien doi tan so 54

Thay vào ta có:

bien doi tan so 56

Điện áp ra trên bộ tách sóng: uS = uS1 – uS2

bien doi tan so 57

bien doi tan so 58

Vậy trị số tức thời của điện áp ra trên bộ tách sóng phụ thuộc hiệu pha của tín hiệu điều pha và tín hiệu chuẩn. Trường hợp ω01 = ω02 và φ01 = φ02 thì điện áp ra chỉ còn phụ thuộc vào pha của tín hiệu vào φ(t).

MẠCH ĐIỀU CHẾ XUNG

Điều chế xung thực hiện khi tách sóng mang ut là các xung cao tần. Trong điều chế xung có thể thực hiện điều biên xung, điều chế độ rộng xung, điều pha xung, nhưng điều biên xung ít dùng vì tính chống nhiễu kém. Sơ đồ khối mạch điều chế xung được mô tả ở hình 6-18. Tín hiệu điều rộng xung (ĐRX) và tín hiệu điều pha xung (ĐPX) ở hình 6-19.

bien doi tan so 59

Cho ut là dãy xung tam giác cao tần còn uS là tin tức. Sau mạch tổng ta được điện áp ua là dãy xung tam giác biến đổi theo uS. Qua mạch hạn chế hai phía mức không và mức +E cho dãy xung hình thang vuông có độ rộng thay đổi theouS(ub). Dãy xung này qua mạch sửa xung được dãy xung vuông có biên độ không đổi, độ rộng thay đổi theo uS, đó là tín hiệu điều rộng xung uĐRX. Để có tín hiệu điều pha xung cho dãy xung vuông trên qua mạch vi phân và hạn chế dưới ta được dãy xung có biên độ, độ rộng không đổi xuất hiện sớm muộn theo uS, đó là tín hiệu điều pha xung uĐRX.

bien doi tan so 60

Continue reading

Cảm biến mới của Omron giúp khách hàng giảm ngân sách đầu tư

Trong hơn một năm trở lại đây, kinh tế Việt Nam vật lộn với nhiều khó khăn. Sản xuất đình trệ, hàng tồn kho cao khiến nhà đầu tư càng khắt khe hơn trong việc kiểm soát chi phí hoạt động và mua sắm thiết bị thay thế cũng như lắp mới.

Khách hàng tự động hóa giờ đây quan tâm nhiều hơn đến các sản phẩm có giá hợp lý, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và độ tin cậy.

Trong 2 năm qua, Omron đã nắm bắt nhu cầu này và đã đưa vào thị trường Việt Nam nhiều sản phẩm có giá thành tốt như: Điều khiển nhiệt E5CSL/WL; Cảm biến quang E3FN, Cảm biến tiệm cận E2GN, bộ đếm H7CZ, timer H5CZ và đã nhận được sự quan tâm rộng rãi của nhiều khách hàng.

Từ tháng 5-2013, Omron lại chính thức ra mắt 2 dòng sản phẩm mới giá thấp là E3JKE2B

Cảm biến quang E3JK là version mới của dòng E3JK đã rất phổ biến trên thế giới hơn chục năm nay. Dòng này có các model đầu ra rơle, sử dụng nguồn dải rộng AC/DC linh hoạt, rất thích hợp cho các ứng dụng phổ biến trong mọi ngành sản xuất cũng như dân dụng (nhà kho, thang máy, cổng tự động v.v…)

So với E3JK cũ, loại mới có nhiều ưu điểm vượt trội:

* Khoảng cách phát hiện tăng lên rất nhiều: loại thu phát từ 5m lên tới 40m, phản xạ gương từ 4m lên 11m (với gương E39-R2); loại phản xạ khuếch tán từ 30cm lên 2,5m !

* Vết sáng của chùm tia phát có thể nhìn rõ trên vật thể từ xa 2m: bởi vậy rất dễ chỉnh hướng khi lắp đặt

* Đèn chỉ thị lớn, độ sáng cao, dễ nhìn từ xa ở các hướng khác nhau

* Núm chỉnh lớn dễ thao tác, được bọc cách điện đảm bảo độ an toàn điện cao.

* Bổ sung thêm phím chọn chế độ Light-On / Dark-On, giúp giảm số model giữ kho.

* Khả năng chống rung đặc biệt tốt,

Điểm đáng chú ý nhất là giá thành loại mới giảm mạnh gần một nửa, chỉ tương đương giá của một số hãng Hàn Quốc (tính năng kém hơn)!

CAM BIEN OMRONVới 372 model DC 3 dây (có sẵn hoặc cắm giắc), đủ mọi kích cỡ từ M8, M12, M18, cho tới M30, E2B đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu ứng dụng phổ biến:

Sản phẩm mới thứ hai ra mắt  là cảm biến tiệm cận hoàn toàn mới E2B.

* Khoảng cách phát hiện từ 2 tới 30m !

* Cấp độ bảo vệ IP67, khả năng chống môi trường dầu mỡ tốt.

* Đèn chỉ thị lớn 360 độ có thể thấy từ xa ở mọi phía.

Công nghệ “Hybrid Method” mới của Omron khai thác ưu điểm của 2 loại vật liệu chính: epoxy resin độ bền cao cho phần cảm biến và phần thân kim loại qua xử lý bằng phương pháp “Hot-Melt” , giúp cho E2B có mức giá thành gây ngạc nhiên trong giới chuyên môn.

Các loại cảm biến quang và cảm biến tiệm cận OMRON

 
 

Nhìn lại thị trường máy biến tần của thế giới trong hơn 2 năm qua

Lượng cầu giảm ở châu Âu đã khiến sản lượng máy biến tần từ thái dương năng sụt giảm lần đầu tiên kể từ năm 2011 nhưng do nhu cầu cao ở châu Mỹ và châu Á nên vẫn còn kỳ vọng khá lạc quan về một sự hồi phục.

logo cac hang min
THI TRUONG BIEN TANTheo một báo cáo mới có tên “Thị trường thế giới cho máy biến tần PV – Ấn bản 2013” của IHS, ”Sản lượng máy biến điện PV trong quý II của năm 2013 đạt 8,3 GW, giảm xuống còn 5% từ mức 8,7% của cùng kỳ năm ngoái.Sản lượng quang điện biến tần (PV) năng lượng mặt trời trên thị trường toàn cầu đã giảm 5% so với cùng kỳ năm ngoái trong quý II – lần đầu tiên có mức giảm như vậy kể từ quý III năm 2011 – khi nhu cầu ở các nước lớn châu Âu giảm xuống.

Máy biến tần là thiết bị cần thiết trong quá trình PV, chuyển đổi dòng điện DC từ các tấm năng lượng mặt trời sang dòng điện AC.

Nguyên nhân chính cho sự giảm sản lượng máy biến tần là sự chững lại mạnh mẽ của thị trường châu Âu. Sản lượng ở khu vực châu Âu, Trung Đông và châu Phi (EMEA) trong nửa đầu năm 2013 đã giảm hơn 40% so với cùng kỳ năm ngoái. Khu vực EMEA chỉ đạt  6 GW trong nửa đầu năm 2013, giảm 10 GW so với cùng kỳ năm ngoái.

“Tốc độ giảm sản lượng máy biến tần tại các nước lớn châu Âu như Đức và Ý đã nhanh hơn dự kiến với việc nhu cầu tại một vài trong số những thị trường này đã giảm hơn 70% trong năm nay”, Cormac Gilligan, chuyên viên phân tích thị trường PV cao cấp tại IHS cho biết. “Một số nhà cung cấp máy biến tần đã rất tin tưởng vào những thị trường trước nay vẫn được xem là lớn này. Vì thế, các nhà cung cấp này đang tìm kiếm những thị trường mới và đang mở rộng sự hiện diện của mình trên toàn thế giới ở những nước tăng trưởng mạnh, bao gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ.”

INVT làm nóng thị trường máy biến TẦN Trung Quốc

Bất chấp sự sụt giảm hàng năm, sản lượng vẫn đều đặn tăng lên, quý II tăng 24% so với quý I. Nguyên nhân chính cho sự tăng trưởng lớn trong sản lượng giữa các quý là Trung Quốc, nơi sản lượng máy biến tần đã tăng 174% trong quý II của năm 2013, đạt mức xấp xỉ 2 GW. Sự bùng nổ này được thúc đẩy với một nỗ lực nhằm hoàn thành các dự án mà chương trình Golden Sun của Trung Quốc hỗ trợ.

“Mặc dù sản lượng máy biến tần của Trung Quốc đã tăng gần gấp 3 trong quý II năm 2013, thị trường máy biến tần của nước này vẫn do các nhà cung cấp trong nước thống trị”, Ông Gilligan cho biết thêm. “Bất chấp việc đây là một thị trường lớn, Trung Quốc vẫn là một thị trường đầy thách thức cho các nhà cung cấp phương Tây muốn thâm nhập. Giá trung bình của máy biến tần đã giảm 14% trong quý II của năm 2013, ở mức 0,07 USD một watt, điều này có nghĩa là các nhà cung cấp đó thực sự cần có một đại diện tại đây để có được mức giá cạnh tranh trên thị trường này.”

Doanh thu máy biến TẦN giảm sút

Giá trung bình của máy biến điện trên toàn cầu đang tiếp tục giảm xuống, quý II của năm 2013 sụt giảm 10% so với quý I. Sự sụt giảm này là kết quả của việc chuyển hướng máy biến tần sang các thị trường có chi phí thấp hơn ở châu Á và việc giá đang tiếp tục giảm ở những thị trường năng lượng mặt trời đã có. Doanh thu trong quý II của năm 2013 đã giảm 18% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 1,6 tỉ USD.

Doanh thu của máy biến tần tại châu Âu đã giảm xuống hơn 50% trong quý II năm 2013, trong đó các thị trường như Đức và Ý sụt giảm hơn 60%.

Các nhà cung cấp châu Âu đang cố gắng duy trì tốc độ

Doanh thu tại châu Âu giảm xuống đã ảnh hưởng mạnh đến thị phần của các nhà sản xuất máy biến tần trong khu vực tại lục địa này, những người mà trước nay chỉ phụ thuộc vào một số thị trường châu Âu. Kết quả là, trong quý II năm 2013, chỉ có 3 nhà cung cấp máy biến tần được xếp hạng trong số 10 nhà cung cấp đứng đầu về thị phần. Con số này chỉ bằng một nửa so với năm ngoái.

“Những chậm trễ trong việc xin cấp giấy chứng nhận máy biến tần cho các thị trường PV đơn lẻ, doanh thu giảm và khó khăn trong thâm nhập các thị trường mới đã đặt ra những thách thức lớn cho các nhà cung cấp bảo thủ từ châu Âu,” Gillian chú thích. “Vấn đề doanh thu giảm đang bị làm trầm trọng thêm bởi những nhà cung cấp mới gia nhập thị trường, ví du như những nhà cung cấp Trung Quốc tại châu Âu, và bởi những mức giá cạnh tranh trong một thị trường nội địa vốn đã rất đông đúc.”

Hồi phục trong nửa cuối của năm

IHS dự đoán sản lượng máy biến tần sẽ tăng trong nửa cuối năm 2013 để tổng sản lượng cả năm đạt mức 34,5 GW.

Tuy nhiên, đa số nhu cầu máy biến tần được dự báo sẽ đến từ thị trường châu Mỹ và châu Á, việc này sẽ tiếp tục tạo áp lực lên các nhà cung cấp máy biến tần vốn chưa có tầm ảnh hưởng tại những thị trường này. Nhờ sự chuyển đổi thị trường này, các nhà cung cấp máy biến tần – đặc biệt là các doanh nghiệp Trung Quốc và Nhật Bản như Sungrow, Omron, Tabuchi và TMEIC – hi vọng sẽ tăng trưởng mạnh trong năm 2013, điều mà không có lợi cho một số nhà cung cấp Châu Âu

Nửa thế kỷ hoàn thiện Công tắc hành trình WL-N của Omron

CONG TAC HANH TRINH WL

Công tắc hành trình WL được giới thiệu lần đầu tiên từ năm 1959, được coi là một trong những dòng sản phẩm tự động hóa có vòng đời lâu nhất. Chất lượng, độ tin cậy và độ bền cao là những ưu điểm được khách hàng trên toàn cầu đánh giá cao cho WL. Chính vì vậy, thiết kế cơ bản của WL hầu như không thay đổi trong suốt những năm qua.

Với mục đích hoàn thiện sản phẩm tốt hơn, dễ sử dụng hơn, đầu tháng 12 năm 2013, Omron đã chính thức ra mắt model cải tiến WL-N, kết quả của công nghệ mới và kinh nghiệm tích lũy suốt 54 năm của nhà chế tạo tự động hóa hàng đầu Nhật Bản.

WL-N mới cho phép người sử dụng lựa chọn model dễ dàng, nối dây thuận tiện và quan sát tình trạng hoạt động tiện lợi. Các model đa năng mới giúp giảm số lượng chủng loại xuống còn một nửa, khách hàng không cần phải giữ kho nhiều loại cho các ứng dụng khác nhau.

Nhằm rút ngắn 40% thời gian lắp đặt, đấu dây, Omron đã cải tiến nhiều chi tiết của công tắc như:

– Dùng nhựa cao su đặc biệt thay cho giấy cách điện ở loại cũ, vốn gây khó khăn thao tác đấu dây.

– Giảm kích cỡ khối tiếp điểm bên trong để tăng không gian cho dây nối

– Dùng ốc từ tính để tránh rơi khi lắp đặt.

Với các model có đèn chỉ thị, WL-N sử dụng cơ cấu khuếch tán ánh sáng 3D giúp tăng góc nhìn và độ sáng lên rất nhiều (xem hình)

E5GC- Model mới thuộc dòng điều khiển nhiệt độ thông dụng E5_C của Omron

E5GC là sản phẩm điều khiển nhiệt độ mới nằm trong nhóm sản phẩm E5_C, đã được hãng Omron đưa ra thị trường từ năm 2012 và ngay sau đó đã trở thành sản phẩm “hot” với màn hình đẹp, độ tương phản và góc nhìn cao, dễ đọc và dễ sử dụng.

 
E5CC

E5GC được cải tiến với kích thước thân 24mm x 48mm và là kết quả của xu hướng thu nhỏ kích thước sản phẩm. Trước đó, dòng này đã có các model E5CC (48x48mm), E5EC (96x48mm), E5AC (96x96mm) và ––E5DC kích thước mỏng (DIN 22.5mm).
Sản phẩm này đáp ứng nhu cầu thu nhỏ kích thước máy cũng như các panel điều khiển. Model mới E5GC với kích thước  24mm x 48mm vẫn kế thừa tính ưu việt về khả năng hoạt động, màn hiển thị dễ nhìn và cách sử dụng đơn giản của series E5_C, dòng sản phẩm đạt giải thưởng thiết kế xuất sắc của Nhật bản năm 2013.
Model mới của Omron có thân nhỏ hơn 10% so với kích thước của điều khiển nhiệt độ thông thường trước đây, có thể gá lắp theo chiều ngang và dọc, đáp ứng được được nhu cầu thu nhỏ kích thước của các dụng cụ phòng thí nghiệm hoặc các lò đốt nhỏ. E5GC cũng dùng màu LED trắng hiển thị giá trị hiện tại dễ nhìn.
Theo khảo sát của hãng Omron thì kích thước số hiển thị của sản phẩm này là lớn nhất so với các thiết bị tương tự đang có trên thị trường. Với thiết bị này, người sử dụng có thể dễ dàng cài đặt chương trình và quản lý dữ liệu bằng cách sử dụng phần mềm CX-Thermo.

E5GCE5GC 1

Các thông số cơ bản của E5GC:
– Độ chính xác: ±0.3%PV
– Thời gian trích mẫu: 50ms
– Đầu vào đa năng: cặp nhiệt, can PT, dòng, áp
– Đầu ra tùy chọn: rơ le, điện áp, dòng
– Thời gian bảo hành: 3 năm

Biến tần YASKAWA A1000 cho các ứng dụng Thu – Xả cuộn

Biến tần A1000 for Winder là một giải pháp ứng dụng cho các hệ thống thu cuộn và xả cuộn trong công nghiệp. Với khả năng điều khiển được cho cả động cơ không đồng bộ ( IM ) và động cơ đồng bộ ( PM ) của biến tần YASKAWA A1000, giải pháp đem đến khả năng điều khiển chính xác và tin cậy đối với các loại vật liệu đa dạng như: giấy, sợi, dây thừng, dây cáp điện ….

Yaskawa-A1000
cuon yaskawa

ƯU ĐIỂM CỦA BIẾN TẦN YASKAWA A1000

*  Tốc độ dài có thể đạt tới 1500 mét/ phút

*  Điều khiển chính xác giúp hệ thống vận hành mựot mà, ngăn các trừong hợp bị đứt gãy, bị biến dạng, bị hỏng sản phẩm.

*  Điều khiển lực căng bằng phương pháp điều khiển moment trực tiếp hoặc thông qua dancer ( biến trở lực căng ) hoặc cảm biến lực căng.

*  Hỗ trợ các hàm tính toán đường kính kết hợp lưu vào bộ nhớ đảm bảo vận hành chính xác trong các trường hợp khởi động lại hoặc mất nguồn khi đang chạy.

*  Có khả năng phát hiện các sự cố đứt sản phẩm dựa vào các hàm giám sát moment.

*  Đặc tính điều khiển xuất sắc nhờ vào hàm PID thông minh và các hàm bù trừ độ trựot, quán tính.

*  Bù ma sát tĩnh và ma sát truợt giúp điều khiển lực căng 1 cách chính xác.

*  Tiết giảm ( hoặc không sử dụng ) PLC ngoài và I/O ngoài.

*  Giá thành thấp, vận hành tin cậy, bảo trì bảo dưỡng dễ dàng.

ĐẶC TÍNH CƠ BẢN
CÁC NGÕ VÀO RA:

  • 8 ngõ vào số:
    • Có thể đấu kiểu Sink hoặc Source
    • Có thể sử dụng nguồn 24VDC ngoài
  • 1 Ngõ vào nhận xung đến 32 Khz: dễ dàng đồng bộ với các thiết bị khác
  • 3 ngõ vào Analog: có thể chọn kiểu điện áp, dòng điện, PTC
  • Relay báo lỗi ( NO & NC )
  • Hàm chức năng an toàn: 2 kênh STO ( safe torque off ) ( EN ISO 13849-1 )
  • 3 relay ngõ ra dạng transistor
  • 1 Ngõ ra phát xung 32 Khz
  • 2 Ngõ ra Analog: có thể chọn kiểu điện áp hoặc dòng điện.
  • Thiết bị giám sát bên ngoài (EDM )

Yaskawa: 100 năm một thương hiệu uy tín về các sản phẩm công nghiệp đến từ Nhật Bản

yaskawa-logo

Yaskawa Electric là tập đoàn hàng đầu thế giới trong sản xuất và cung cấp các sản phẩm trong lĩnh vực truyền động điện, Robot công nghiệp trên thế giới với trụ sở chính tại Kitakyushu, Nhật Bản. Trải qua gần 100 thành lập và phát triển, với tiền thân là một công ty chuyên sản xuất động cơ và các thiết bị truyền động điện, Yaskawa Electric đã không ngừng nghiên cứu, mở rộng sản xuất và hiện tại đã trở thành một trong những nhà sản xuất thiết bị công nghiệp tự động hóa hàng đầu thế giới. Yaskawa cam kết đóng góp vào sự phát triển hơn nữa của xã hội bằng việc tập trung sản xuất và kinh doanh những sản phẩm thế mạnh của Yaskawa gồm “Biến tần”, “Động cơ Servo”, “Bộ điều khiển” và “Robot công nghiệp”, đồng thời cung cấp cho khách hàng các giải pháp mới sử dụng thế mạnh công nghệ của Yaskawa.

 dnsp_t8-14-10


  Biến tần trung thế Yaskawa MV1000
: là dòng biến tần trung thế siêu tiết kiệm năng lượng, với các dải điện áp khác nhau: 3.3kW, 6.6kW, 11kW. Với các ưu điểm sóng hài cực thấp gần như bằng 0, không tăng điện áp, mô men xoắn thấp, vận hành hiệu suất cao, MV1000 được ứng dụng nhiều trong các máy móc công nghiệp nặng, bơm cấp thoát nước, băng tải… giúp tiết kiệm năng lượng hiệu quả, truyền động tin cậy, đáp ứng các yêu cầu vận hành tối ưu.

♦ Biến tần hạ thế Yaskawa: cung cấp nhiều loại biến tần đáp ứng mọi nhu cầu trong sản xuất: biến tần đa năng A1000 cho cầu trục, băng chuyền, máy công cụ, HVAC với dải công suất lên tới 630kW; biến tần V1000 công suất nhỏ cho bơm, quạt, băng chuyền, cửa tự động…; biến tần J1000 nổi bật với kết cấu nhỏ gọn, đa năng, cài đặt dễ dàng; biến tần Yaskawa E1000 tiết kiệm năng lượng, độ ồn thấp, chuyên dùng cho ứng dụng bơm, quạt, HVAC; biến tần U1000, D1000 cho các ứng dụng tiết kiệm năng lượng cao cấp sử dụng công nghệ AC Matrix nổi tiếng của Yaskawa.

  1. Biến tần Yaskawa H1000
  2. Biến tần Yaskawa A1000
  3. Biến tần Yaskawa V1000
  4. Biến tần Yaskawa E1000
  5. Biến tần Yaskawa L1000A
  6. Biến tần Yaskawa J1000
  7. BIẾN TẦN YASKAWA G7
  8. Biến tần Yaskawa MV1000 trung áp

♦  Động cơ servo và các bộ điều khiển truyền động Sigma V, Sigma VII: được thiết kế với các tính năng vượt trội, hoạt động với tốc độ cao và độ chính xác tuyệt đối nhằm nâng cao hiệu suất cho dây chuyền sản xuất, cài đặt và vận hành dễ dàng với phần mềm hỗ trợ, khả năng tương thích cao với các loại máy khác nhau.

dnsp_t8-14-11 dnsp_t8-14-12

♦  Robot Motoman: là dòng sản phẩm thế mạnh của Yaskawa với hơn 20.000 Robot xuất xưởng mỗi năm, với chủng loại Robot đa dạng: rô bốt hàn, rô bốt sơn, rô bốt gắp, rô bốt nâng bốc hàng, rô bốt lắp ráp… được sử dụng trong các dây chuyền nhà máy trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như: lắp ráp ô tô, xe máy, đóng tàu, sắt thép, chế biến thực phẩm, điện tử bán dẫn… và thậm chí cả lĩnh vực y tế, sinh học.


dnsp_t8-14-13♦  Các giải pháp kĩ thuật tổng thể (system engineering)
: cung cấp các giải pháp kĩ thuật cho các hệ thống nhà máy lớn với đội ngũ kĩ sư kinh nghiệm lâu năm, trình độ cao sẽ cung cấp các giải pháp đảm bảo các hệ thống trong nhà máy được vận hành, giám sát, điều khiển bằng hệ thống đồng bộ như nhà máy thép, nhà máy giấy, nhà máy nước giải khát, chế biến thực phẩm…♦  PLC Vipa:
 sản phẩm được phát triển bởi các kĩ sư kinh nghiệm lâu năm tại Đức từ năm 1985 và chính thức trở thành thành viên của Yaskawa từ năm 2012. Với các dòng sản phẩm SLIO, 100V, 200V, 300S, 500S tích hợp các tính năng vượt trội, tương thích với các loại PLC của Siemens, có thể lập trình dễ dàng bằng WinPLC7 hoặc Step7, các bộ HMI chất lượng cao, PLC Vipa sẽ là dòng sản phẩm có tính cạnh tranh cao với các dòng PLC trên thị trường.

Mặc dù gia nhập thị trường tự động hóa Việt Nam muộn hơn so với các nhà sản xuất, cung cấp các thiết bị tự động hóa như ABB, Siemens, Omron, Hitachi, … nhưng các sản phẩm như biến tần, động cơ servo, Robot Motoman của Yaskawa đã nhanh chóng khẳng định chất lượng, thương hiệu và được khách hàng đánh giá rất cao. Nhận thức được Việt Nam là một thị trường tiềm năng, tập đoàn Yaskawa Electric đã xúc tiến nhiều hoạt động mang tính bước ngoặt như mở đại diện bán hàng của hãng tại Việt Nam từ đầu những năm 2008 và tham gia nhiều hội trợ triển lãm tại Việt Nam để giới thiệu biến tần, động cơ và Robot với khách hàng tại Việt Nam. Nối tiếp các sự kiện đó, năm 2011 Yaskawa Electric đã chính thức thiết lập Văn phòng Đại diện Yaskawa Electric tại Việt Nam làm cầu nối cho hoạt động kinh doanh, phát triển và đánh giá thị trường đối với các sản phẩm Yaskawa. Với định hướng và chiến lược đúng đắn, doanh số và uy tín của Yaskawa Electric tại Việt Nam không ngừng tăng trưởng ấn tượng qua từng năm. Từ tháng 12 năm 2013 tập đoàn Yaskawa Electric chính thức thành lập chi nhánh tại Việt Nam với mô hình là Công ty TNHH Yaskawa Electric Việt Nam với chiến lược phát triển bền vững, nhằm mang tới cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tốt hơn.